Việc thực hiện lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 từ ngày 01/6/2026 không chỉ kéo theo việc điều chỉnh các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiên liệu mà còn bổ sung cơ chế về giá, nguồn cung, hạ tầng phối trộn và lộ trình phân phối, nhằm thúc đẩy việc sử dụng xăng sinh học trên phạm vi rộng hơn.
Ảnh minh họa: baochinhphu
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất tại Sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN là việc điều chỉnh thành phần của xăng E10.
Theo quy chuẩn mới, xăng E10 được xác định là hỗn hợp giữa xăng không chì và etanol nhiên liệu, với hàm lượng etanol dao động từ 8,0% đến 10,0% theo thể tích.
Trong khi đó, theo QCVN 01:2022/BKHCN trước đây, hàm lượng etanol trong xăng E10 được quy định trong khoảng từ 9% đến 10% theo thể tích.
Như vậy, quy chuẩn mới đã hạ ngưỡng tối thiểu từ 9% xuống 8%, đồng nghĩa với việc biên độ phối trộn được nới rộng hơn, song vẫn giữ nguyên mức tối đa là 10%.
Không chỉ thay đổi về tỷ lệ etanol, quy chuẩn sửa đổi còn điều chỉnh nhiều nội dung kỹ thuật khác liên quan đến xăng sinh học.
Đáng chú ý, tổng hàm lượng oxy trong xăng E10 được quy định không vượt quá 4,0% khối lượng đối với tất cả các mức chất lượng. Quy định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
So với quy định trước đây, đây là một thay đổi đáng chú ý khi giới hạn oxy được nâng từ 3,7% lên 4,0% khối lượng.
Đồng thời, quy chuẩn mới cũng bổ sung nội dung làm rõ rằng tổng hàm lượng oxy phải bao gồm cả phần oxy có trong etanol nhiên liệu.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến những hợp chất oxygenat được phép sử dụng trong xăng cũng được sửa đổi.
Theo quy chuẩn mới, ngoài etanol nhiên liệu biến tính hoặc không biến tính, chỉ những hợp chất nằm trong danh mục mới mới được phép sử dụng trong xăng không chì, xăng E5 và xăng E10.
Một thay đổi đáng chú ý khác là metanol không còn được quy định ở mức “không phát hiện” như trước đây, mà được phép tồn tại với hàm lượng không lớn hơn 0,3% thể tích.
Trong khi đó, một số thành phần từng được quy định trước đây như aceton hoặc hỗn hợp sec-butyl acetat và n-butyl acetat không còn xuất hiện trong danh mục sửa đổi.
Ngoài việc sửa đổi các chỉ tiêu kỹ thuật, quy chuẩn cũng cập nhật phương pháp thử theo tiêu chuẩn ASTM quốc tế nhằm phục vụ việc xác định chất lượng nhiên liệu.
Trong đó, phương pháp TCVN 7332 tương ứng ASTM D4815 tiếp tục được áp dụng để xác định hàm lượng etanol và các hợp chất oxygenat trong xăng E10.
Cùng với việc sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật, dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc đẩy nhanh triển khai lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 cũng đề ra lộ trình chuyển đổi trên phạm vi toàn quốc.
Theo đó, việc triển khai sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn nhằm bảo đảm tính ổn định về nguồn cung cũng như hạ tầng.
Ở giai đoạn đến hết ngày 31/5/2026, các doanh nghiệp đã sẵn sàng về nguồn cung E100, hệ thống phối trộn và phân phối được khuyến khích mở rộng cung ứng xăng E10 tới người tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp chưa hoàn thiện điều kiện hạ tầng, có thể áp dụng nhiều giải pháp chuyển tiếp như mua xăng E5 hoặc E10 từ các đơn vị có đủ khả năng cung cấp trong thời gian hoàn thiện cơ sở vật chất.
Từ ngày 01/6/2026, việc phân phối xăng E5 và xăng E10 sẽ được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước theo quy định tại Thông tư số 50/2025.
Để phục vụ lộ trình này, Bộ Công Thương được giao chủ trì điều phối nguồn cung etanol và xăng nền phục vụ hoạt động pha chế, phối trộn xăng sinh học E10; đồng thời giám sát quá trình triển khai nhằm bảo đảm việc thực hiện diễn ra theo lộ trình có kiểm soát.
Ngoài ra, các thương nhân kinh doanh xăng dầu và doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu nhiên liệu sinh học cũng được yêu cầu chủ động xây dựng kế hoạch tạo nguồn xăng khoáng và E100, nâng cấp hệ thống phối trộn và mạng lưới phân phối, đồng thời hoàn tất kế hoạch chuyển đổi trước thời điểm ngày 01/6/2026.
Bên cạnh những thay đổi về tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình triển khai, dự thảo cũng bổ sung cơ chế xác định giá cơ sở riêng đối với xăng E10 nhằm tạo điều kiện cho mặt hàng này vận hành trên thị trường.
Theo đó, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính được phép xác định các yếu tố cấu thành công thức giá cơ sở đối với xăng E10 kể từ ngày 01/6/2026.
Công thức tính giá được thực hiện trên cơ sở các quy định hiện hành về điều hành giá xăng dầu, trong đó có tính đến những yếu tố đặc thù của nhiên liệu sinh học.
Các yếu tố cấu thành giá cơ sở bao gồm giá xăng dầu thế giới, giá etanol nhiên liệu, tỷ lệ phối trộn, chi phí tiếp nhận, vận chuyển, tồn trữ, hao hụt và các chi phí hợp lý khác liên quan đến hoạt động kinh doanh xăng E10.
Các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu có trách nhiệm báo cáo đầy đủ, trung thực và kịp thời các dữ liệu phục vụ việc xác định giá cơ sở.
Đáng chú ý, kể từ ngày 01/6/2026, mặt hàng E10RON95-III được xác định để thực hiện công bố giá cơ sở.
Đồng thời, Bộ Công Thương sẽ công bố mặt hàng tiêu dùng nhiều nhất thuộc nhóm nhiên liệu sinh học để phục vụ công tác điều hành giá trong thời gian tiếp theo.
Song song với đó, Bộ Tài chính cũng được giao nghiên cứu điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và các chính sách liên quan nhằm tạo chênh lệch giá phù hợp giữa xăng sinh học và xăng khoáng, qua đó góp phần khuyến khích việc sử dụng xăng sinh học theo hướng ổn định và lâu dài.



