Sau các chủ trương và định hướng lớn, đặc biệt là Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế, câu chuyện làm chủ công nghệ đang được đặt ra ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, phía sau những sản phẩm công nghệ chính là bài toán nguồn nhân lực.
Hàng chục doanh nghiệp trong nước đã tham gia nghiên cứu, sản xuất drone; nhiều doanh nghiệp công nghệ cũng đang phát triển robot, hệ thống tự động hóa và các giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Điều đó cho thấy cơ hội không chỉ nằm ở thị trường tiêu dùng mà còn ở khả năng làm chủ công nghệ và tạo ra sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam. Trần Khắc Triều – Giám đốc đối ngoại công ty Gremsy: "Lĩnh vực này có tiềm năng rất lớn tại Việt Nam, đặc biệt trong việc cung cấp các giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp đang sản xuất drone trong nước, đồng thời cùng các doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế và phục vụ nhu cầu trong nước. Việc này không chỉ diễn ra trong năm nay mà sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong những năm tới. Theo một số nghiên cứu, quy mô thị trường UAV tại Việt Nam trong khoảng 3 năm tới có thể đạt khoảng 10 tỷ USD. Tuy nhiên, tiềm năng thực tế có thể còn lớn hơn rất nhiều, thậm chí có thể đạt tới hàng trăm tỷ USD".
Một thiết bị bay không người lái hay một hệ thống robot tự động không chỉ cần kỹ sư cơ khí hay điện tử mà còn đòi hỏi đội ngũ chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, phần mềm, cảm biến, điều khiển tự động và thiết kế hệ thống. Đây chính là mắt xích quyết định để biến các ý tưởng công nghệ thành sản phẩm thực tế. Lê Thị Thu Ngân - Đồng sáng lập Công ty TNHH SHOES AGTECH: "Việc tìm kiếm nhân sự cho startup rất khó khăn, vì mô hình này khác biệt so với các doanh nghiệp truyền thống. Chúng tôi cần những người vừa giỏi chuyên môn, vừa có tư duy phù hợp với startup. Sau thời gian chọn lọc, hiện tại công ty đã có đội ngũ nhân sự hiểu rõ tư duy, có niềm đam mê và đảm nhận tốt vai trò trong từng bộ phận, tình hình vận hành đang rất ổn định".
Dự báo của Bộ Khoa học và Công nghệ, từ nay đến năm 2030 Việt Nam cần bổ sung khoảng 1,3 đến 1,5 triệu nhân lực công nghệ, trong đó 35 - 40% là nhân lực chất lượng cao. Những chuyển động trong lĩnh vực đào tạo đang cho thấy sự chuẩn bị tích cực cho giai đoạn phát triển mới. Nếu Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu đào tạo hơn 8.000 nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực bán dẫn và các ngành liên quan, thì đến năm 2030, Đại học Quốc gia TPHCM cũng đặt mục tiêu đào tạo khoảng 3.000 nhân lực chất lượng cao chuyên sâu về các ngành công nghệ chiến lược trọng điểm như Trí tuệ nhân tạo (AI), Vi mạch bán dẫn và Công nghệ sinh học. Nhiều chương trình đào tạo mới về thiết kế vi mạch, công nghệ lượng tử hay an toàn thông tin cũng đang được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghệ mũi nhọn. PGS.TS Ngô Khánh Hiếu – Giảng viên cao cấp Chuyên ngành Kỹ thuật hàng không, Đại học Bách Khoa TPHCM: "Các ngành công nghệ cao luôn nằm trong nhóm có điểm đầu vào cao nhất, đặc biệt tại Đại học Bách khoa. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy các trường đã làm tốt công tác dự báo nguồn nhân lực và chuyển đổi chương trình đào tạo theo xu hướng công nghệ, đáp ứng nhu cầu đầu tư thực tế".
Song song với đào tạo trong nước là xu hướng thu hút nguồn lực chất lượng cao từ bên ngoài. Theo các chuyên gia, trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ, robot tự hành hay công nghệ bán dẫn, Việt Nam vẫn cần thêm các chuyên gia đẳng cấp quốc tế để tham gia nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo đội ngũ kế cận. Tuy nhiện nguồn nhân lực trong nước vãn là lựa chọn cho sự chủ động và phát triển bền vững. PGS.TS Ngô Khánh Hiếu – Giảng viên cao cấp Chuyên ngành Kỹ thuật hàng không, Đại học Bách Khoa TPHCM: "Đầu tư công nghệ là cần thiết, nhưng nếu không có nhân lực tại chỗ với chi phí hợp lý, doanh nghiệp sẽ khó phát triển bền vững. Dù cần thời gian đào tạo để đạt trình độ tương đương chuyên gia nước ngoài, nhưng nguồn nhân lực trong nước giúp doanh nghiệp chủ động và yên tâm hơn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nhân sự nước ngoài".
Một điểm đáng chú ý là mô hình hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học đang được xem là chìa khóa cho phát triển nguồn nhân lực công nghệ. Nhà trường đào tạo kiến thức nền tảng, doanh nghiệp cung cấp môi trường thực tiễn, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và đầu tư hạ tầng nghiên cứu. Mô hình này đã giúp nhiều quốc gia thành công trong phát triển công nghệ cao và đang được thúc đẩy mạnh mẽ tại Việt Nam. Bà Nguyễn Hoàng Bảo Trân – Phó giám đốc Sở KHCN: "Ngoài việc tạo điều kiện kết nối giữa doanh nghiệp, viện và trường, chúng ta cần mở rộng kết nối với các địa phương. Hiện nay, thành phố đang đề xuất bổ sung, điều chỉnh Luật đô thị đặc biệt với các cơ chế ưu đãi mang tính đột phá. Điều này giúp doanh nghiệp có định hướng thương mại hóa khi đặt ra các bài toán nghiên cứu, đồng thời tạo không gian để các viện, trường nghiên cứu công nghệ lõi, chẳng hạn như việc đầu tư xây dựng một trung tâm nghiên cứu dùng chung".
Kinh tế không gian tầm thấp, robot tự hành hay các ngành công nghệ chiến lược không chỉ cần những cỗ máy hiện đại. Nền tảng quan trọng nhất vẫn là con người. Khi nguồn nhân lực được chuẩn bị bài bản, có kỹ năng, tư duy sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ, cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu sẽ ngày càng rộng mở. Và đó cũng là nền tảng để những công nghệ của tương lai được tạo ra từ chính trí tuệ Việt Nam.